Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

Mất ngủ - căn bệnh thời hiện đại

 Ngủ là một nhu cầu thiết yếu của cơ thể. Chất lượng giấc ngủ có những ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Trong cuộc sống hiện đại, mất ngủ đang trở thành một vấn đề lớn, dễ gặp phải ở nhiều người.

Ngủ là một nhu cầu sống còn đối với cơ thể chúng ta. Thông thường thời gian ngủ chiếm 1/3 thời gian cuộc đời mỗi người. Trong khi ngủ, cơ thể chúng ta được đưa về trạng thái hoạt động ở mức thấp nhất. Cơ thể được duy trì ở mức chuyển hóa cơ bản, tạo điều kiện cho các cơ quan trong cơ thể được nghỉ ngơi và hồi phục sau thời gian dài hoạt động. Khi ngủ, cơ thể tiết ra những hormone quan trọng giúp quá trình chuyển hóa, tích lũy năng lượng cần thiết cho hoạt động trong ngày và quá trình tăng trưởng cơ thể, giúp não bộ sắp xếp lại những thông tin một cách hệ thống, thiết lập và củng cố khả năng ghi nhớ của não bộ.

Khi cuộc sống ngày càng hiện đại, sự thay đổi về môi trường sống như ô nhiễm âm thanh, ánh sáng, nhịp sống, stress, áp lực công việc ngày càng gia tăng là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều sự thay đổi trong vấn đề giấc ngủ. Thống kê sơ bộ cho thấy ở Mỹ  dân số bị rối loạn giấc ngủ (thời gian, chất lượng giấc ngủ không đảm bảo), trong đó mất ngủ chiếm 50% các ca rối loạn giấc ngủ.

Tại các quốc gia phát triển ở Châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, đặc biệt là Nhật Bản, khi áp lực công việc đã là một phần văn hóa thì tình trang mất ngủ, rối loạn giấc ngủ lại càng trầm trọng hơn. Tại nước ta, vấn đề giấc ngủ chỉ mới được quan tâm đúng đắn và có những đơn vị chuyên môn trong giai đoạn gần đây; nên chưa có những thống kê, nghiên cứu với số lượng và thực trạng chính xác. Tuy nhiên, qua quá trình thăm khám đã có nhiều trường hợp mất ngủ mạn tính lâu năm có khi lên đến hàng chục năm chưa hề “chợp mắt” được giây phút nào.

Đánh giá chất lượng giấc ngủ

Chất lượng của một giấc ngủ được đánh giá dựa trên thời gian ngủ (ngủ bao lâu), và chất lượng của các giai đoạn khác nhau trong giấc ngủ.

Thời gian ngủ của mỗi đối tượng, lứa tuổi khác nhau thì có sự khác biệt: Trẻ sơ sinh cần ngủ 16 - 20 tiếng mỗi ngày để phát triển trí não, thể chất; trẻ em dưới 16 tuồi cần ngủ 8 - 10 tiếng mỗi ngày, người trường thành cần ngủ trung bình 8 tiếng trên ngày, người trên 60 tuổi thời gian ngủ có sự  suy giảm còn khoảng 6 tiếng một ngày và thường có chất lượng giấc ngủ không tốt (ngủ không sâu, ngủ lờ mờ, dễ thức giấc…).

Mất ngủ

Ngủ đủ giấc là một điều kiện cần cho một giấc ngủ chất lượng nhưng không phải là điều kiện đủ để đánh giá một giấc ngủ có chất lượng cao. Nếu thời gian ngủ là “lượng” thì một giấc ngủ ngon cần sự đảm bảo về “chất”.

Giấc ngủ thông thường có thể chia đơn giản thành các giai đoạn ngủ nông - ngủ sâu - ngủ mơ; mỗi giai đoạn có những giá trị và lợi ich khác nhau.

Ngủ nông: là giai đoạn bắt đầu đi vào giấc ngủ và ngủ dễ thức giấc

Ngủ sâu: là giai đoạn sau ngủ nông là giai đoạn hồi phục thể chất của cơ thể. Thời gian ngủ sâu của người lớn tuổi rất ít dẫn đến việc sau giấc ngủ không thấy sảng khoải, không có sự khôi phục thể chất, cơ thể mệt mỏi sau giấc ngủ.

Mơ: mơ biến trí nhớ ngắn hạn thành trí nhớ dài hạn, giai đoạn mơ có tác dụng thải độc cho các tế bào thần kinh, hồi phục sức khỏe thần kinh giúp cơ thể minh mẫn sau giấc ngủ. Việc rối loạn thời gian mơ trong cấu trúc giấc ngủ có thể để lại nhiều biến chứng như xẹp đường dẫn khí, giảm tưới máu não gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh, thậm chí có thể gây đột qụy (thường xảy ra trong giai đoạn mơ).

Trong khoa học giấc ngủ, người ta chia giấc ngủ bình thường theo 2 chu kỳ: NREM (Non rapid eye movement: giấc ngủ không chuyển động mắt nhanh) và REM (Rapid eye movement: giấc ngủ chuyển động mắt nhanh). Trong đó, chu kỳ NREM chia thành 4 giai đoạn. Cấu trúc của giấc ngủ có sự thay đổi trong suốt đời người. Ở thời kỳ sơ sinh, giấc ngủ REM hiện diện hơn 50% tổng thời gian ngủ và điện não chuyển trực tiếp từ giai đoạn thức đến giai đoạn REM mà không thông qua những giai đoạn từ 1 đến 4 của giấc ngủ NREM. Trẻ mới sinh ngủ 16 giờ một ngày xen lẫn với những giai đoạn thức ngắn. Đến 4 tháng tuổi giấc ngủ REM còn thấp hơn 40% và đi vào giai đoạn đầu tiên của giấc ngủ NREM. Với người trưởng thành NREM chiếm 75% tổng thời gian giấc ngủ còn lại là giai đoạn REM.

Một giấc ngủ ngon là một giấc ngủ phù hợp về thời gian, đảm bảo về chất lượng của giấc ngủ. Giấc ngủ không đảm bảo gây nhiều ảnh hưởng đến hệ thần kinh, hệ tim mạch, hệ tuần hoàn. Ngủ là giai đoạn nghỉ ngơi của cơ thể, nếu ngủ không đảm bảo sẽ làm mất thời gian nghỉ ngơi của hệ thống cơ quan, làm các hệ thống cơ quan bị suy yếu làm sức khỏe suy yếu; dẫn đến nguy cơ suy giảm tuổi thọ cũng như các vấn đề sức khỏe tiềm ẩn trong tương lai.

Nguyên nhân rối loạn giấc ngủ

Mất ngủ có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau 

có thể do nguyên phát hay thứ phát, một số nguyên nhân gây rối loạn giấc ngủ thường gặp như:

- Môi trường ngủ không tốt: môi trường ồn ào, nhiều tạp âm, cường độ ánh sáng không phù hợp, không gian, nhiệt độ không phù hợp có thể gây khó ngủ, mất ngủ.

- Sử dụng chất kích thích như trà, cà phê… trước khi ngủ cũng có thể gây rối loạn giấc ngủ.

- Một số trường hợp sử dụng chất kích thích như rượu bia để dễ ngủ cũng là những sai lầm thường gặp; thành phần cồn trong rượu bia có tác dụng an thần, chỉ đưa cơ thể vào trạng thái ngủ nông và hạn chế giấc ngủ sâu làm cản trở quá trình hồi phục của cơ thể, làm cơ thể cảm thấy mệt mỏi, uể oải khi thức giấc. Bia rượu còn khiến bộ máy cơ thể như thận, gan phải hoạt động, cơ thể phải thức giấc giữa đêm để đi tiểu cũng làm gián đoạn giấc ngủ.

- Người cao tuổi hay mất ngủ còn có thể do tình trạng đau mãn tính ở khớp hay cột sống, dị ứng về đêm, khó thở khi ngủ, chứng tê chân và chân không yên khi ngủ; rối loạn nhịp tim dạng ngoại tâm thu, suy tim, trào ngược thực quản, tiểu đêm nhiều lần; bệnh nội tiết như hội chứng cushing, cường tuyến giáp trạng.

- Ngoài ra không thể không kể đến nguy nhân do lo âu, căng thẳng, stress cũng gây nên tình trạng mất ngủ của người cao tuổi.

Khi có dấu hiệu ban đầu của tình trạng rối loạn giấc ngủ hay mất ngủ, người bệnh cần được điều trị sớm để tránh bệnh kéo dài và chuyển đến tình trạng mạn tính (kéo dài trên 3 tháng) gây nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cũng như những khó khăn trong điều trị.

Trị bệnh mất ngủ từ gốc

Mất ngủ có thể do nhiều nguyên nhân và có ảnh hưởng lớn để sức khỏe người bệnh.

 Tuy nhiên việc điều trị mất ngủ không quá khó khăn và hiệu quả điều trị cũng đạt được nhiều kết quả cao nếu tìm đúng nguyên nhân và được điều trị sớm.

Nếu nguyên nhân mất ngủ do sự lo âu quá mức, trầm cảm, căng thẳng… thì việc giải tỏa tâm lý, giải quyết mối bận tâm, lo lắng giúp người bệnh có được tâm trạng thoải mái, thư thái để dễ dàng đi vào giấc ngủ.

Nếu mất ngủ do ảnh hưởng của môi trường ngủ như thiếu yên tĩnh, ồn ào, cường độ ánh sáng cao, quá lạnh hay quá nóng… thì việc thay đôi môi trường ngủ thoải mái sẽ có hiệu quả.

Nếu mất ngủ là nguyên nhân thứ phát của các bệnh mãn tính như: tim mạch, hô hấp, nội tiết, rối loạn tiền đình, hẹp đốt sống cổ… thì việc ổn định các bệnh lý này vừa giúp bệnh nhân giải tỏa được tâm lý cũng như cải thiện được tình trạng rối loạn giấc ngủ.

Người bệnh cần lưu ý, giấc ngủ và chất lượng giấc ngủ có sự thay đổi theo thời gian, càng lớn tuổi con người càng ngủ ít và chất lượng giấc ngủ cũng suy giảm theo tuổi tác. Do đó không thể đòi hỏi một giấc ngủ có thời gian và chất lượng như người trưởng thành. Người cao tuổi có thể sử dụng một số loại thảo dược như tim sen, kỷ tử,… cũng như một số loại thực phẩm có tác dụng an thần để giúp cơ thể dễ đi vào giấc ngủ; rèn luyện thói quen vận động nhẹ nhàng như tản bộ sau khi ăn để cơ thể thư thái và dễ ngủ.

Viêm đại tràng co thắt

 Bệnh viêm đại tràng co thắt (hay hội chứng ruột kích thích hoặc bệnh đại tràng cơ năng) khá giống với một số bệnh đường tiêu hóa khác. Bệnh biểu hiện bằng sự rối loạn chức năng đại tràng mà không có tổn thương thực thể ở đại tràng như rối loạn tính chất của phân, tăng co bóp đại tràng,…

Nếu viêm đại tràng là có vết viêm, vết tổn thương trên niêm mạc đại tràng thì đại tràng co thắt là bệnh mà niêm mạc đại tràng hoàn toàn bình thường nhưng rối loạn chức năng tại đại tràng. Do đó phải biết rằng bệnh đại tràng co thắt sẽ không có viêm. Viêm đại tràng co thắt chính là những người bệnh có cả tình trạng viêm đại tràng và đại tràng co thắt.

Thủ phạm gây viêm đại tràng co thắt thường gặp nhất là gì?

Một số yếu tố nguy cơ sau thường xuất hiện và có thể gây tác động đến sự xuất hiện của bệnh:

- Tình trạng tăng mẫn cảm ruột do rối loạn về cảm giác của hệ thống thần kinh giữa ruột và não. Các nghiên cứu chỉ ra, người bị đại tràng co thắt có nhu động ruột bị thay đổi cường độ co bóp. Nhu động ruột làm việc bất thường gây rối loạn tiêu hóa, cường độ co bóp nhanh gây triệu chứng đầy hơi, tiêu chảy, chướng bụng, nhưng nếu co bóp chậm làm chậm quá trình vận chuyển thức ăn. Điều này khiến phân trở nên khô cứng, gây táo bón.

- Bất thường về các thụ thể cảm nhận của đại tràng.

- Các yếu tố khách quan bên ngoài như trạng thái lo lắng, rối loạn cảm xúc, stress trong công việc, người khó khăn khi hòa nhập với cộng đồng,… Stress căng thẳng khiến các tín hiệu giữa não và ruột phối hợp kém, gây những rối loạn của quá trình tiêu hóa. Điều này lí giải tại sao người bệnh đại tiện thất thường, lúc bị tiêu chảy, lúc bị táo bón.

- Chế độ ăn uống không điều độ, nhiều thực phẩm khó tiêu hay nhiều dầu mỡ, thức ăn kém vệ sinh, sử dụng nhiều rượu bia và chất kích thích cũng là những yếu tố nguy cơ xuất hiện bệnh.

- Rối loạn nội tiết tố: Theo thống kê, phụ nữ có nguy cơ mắc bệnh cao gấp đôi so với đàn ông, nguyên nhân chủ yếu do thay đổi nội tiết tố trong chu kỳ kinh nguyệt, thời kỳ mang thai hay tiền mãn kinh.

Bệnh đại tràng co thắt 

thường ít ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh nhưng vì do yếu tố tâm lý khi người bệnh lo lắng dẫn đến rối loạn nặng nề về chức năng của đại tràng. Bệnh gây ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng cuộc sống. Quản lý và điều trị tốt bệnh đại tràng co thắt giúp người bệnh cải thiện hiệu quả chất lượng cuộc sống.

Triệu chứng bệnh viêm đại tràng co thắt thường gặp nhất là gì?

Bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi, với ba triệu chứng chính thường gặp là đau bụng, táo bón và tiêu phân lỏng có thể phối hợp hoặc đơn độc xen kẽ nhau. Bạn có thể đang gặp phải bệnh lý viêm đại tràng co thắt khi có các biểu hiện:

- Thường chỉ đi ngoài nhiều là 2 lần vào buổi sáng. Thường đi ngoài 1 lần vào buổi sáng, ăn sáng xong có thể đi ngoài thêm 1 lần nữa, nhưng ăn sáng đồ nước đi ngoài nhiều hơn ăn sáng đồ khô. Có thể đi ngoài 3-4 lần vào buổi sáng, nhiều khi có buồn đi nhưng không đi được hoặc đi được ít một, đi ngoài cảm giác không hết phân.

- Đau bụng có thể có hoặc không. Nếu có đau nhiều khi bất thường, lúc thế này lúc thế kia...

- Ăn uống các chất kích thích hay đi ngoài.. Một số người ăn rau có tính nhuận tràng như rau sống, rau cải, rau muống và rau ngót dễ bị đi ngoài phân sống, ra rau. Đôi khi vừa ăn xong 5-10p đã thấy bị buồn đi.

- Khoảng 70% người bệnh có triệu chứng lúc lo lắng, căng thẳng, suy nghĩ nhiều hay tối có mất ngủ triệu chứng có nặng hơn. Đôi khi làm việc quên đi thì thấy không sao, nhưng ngồi nghỉ ngơi ngủ lại thấy có triệu chứng.

- Đi ngoài không có máu.

- Tỷ lệ nữ giới mắc bệnh gấp 2 lần nam giới, triệu chứng có thể nặng lên xung quanh chu kỳ kinh nguyệt.

- Triệu chứng bất thường, có thể chịu sự ảnh hưởng của thay đổi thời tiết

Giải pháp điều trị bệnh viêm đại tràng co thắt

Để kiểm soát triệu chứng, điều trị bệnh, nếu nhẹ thì người bệnh cần loại bỏ nguy cơ như: giảm căng thẳng, ăn uống hợp lí, sinh hoạt lành mạnh, giảm căng thẳng, stress.

Điều trị lao phổi - Cần đúng và kịp thời

 Bệnh lao

 là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 2 trong các bệnh nhiễm trùng với khoảng 10 triệu bệnh nhân lao mới và gần 1,5 triệu người tử vong do lao trên toàn cầu.

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính trong năm 2018, nước ta có 174.000 người mắc lao mới, số người chết do lao khoảng 11.000 người và có thêm 2.000 người chết vì lao/HIV. Dù đã chích vắc-xin phòng ngừa ngay từ khi mới ra đời nhưng một số người vẫn có thể bị mắc bệnh. Lao phổi hoàn toàn có thể chữa khỏi nhưng tâm lý chủ quan và việc điều trị không đúng sẽ khiến bệnh trở nặng, khó điều trị hơn gây hậu quả nặng nề lên hai lá phổi. Về mặt xã hội, chẩn đoán và chữa trị bệnh lao sớm sẽ giảm bớt được sự lây lan bệnh trong cộng đồng.

Bệnh lao thường có các triệu chứng như:

Ho kéo dài, thường chỉ ho khúc khắc dai dẳng chứ hiếm khi ho dữ dội.

Khạc đờm đục, có khi trong đờm có lẫn ít máu.

Ho ra máu: ho khạc toàn máu đỏ tươi, số lượng có thể ít khoảng chừng một vài muỗng hoặc nhiều (ước lượng cỡ chén hoặc tô…)

Cảm giác khó thở, tức ngực, nặng ngực.

Đôi khi triệu chứng của bệnh lao rất mơ hồ, khó nhận biết như:

Cảm giác mỏi mệt toàn thân kéo dài

Ăn không ngon miệng

Sụt cân không có nguyên do

Sốt nhẹ dai dẳng, thường về buổi chiều hoặc không sốt mà chỉ có cảm giác gây gấy ớn lạnh.

Một số người bị bệnh lao mà không có triệu chứng gì cả. Họ thường được phát hiện bệnh một cách tình cờ khi chụp X-quang phổi qua  khám sức khỏe tổng quát định kỳ.

Chẩn đoán đúng - Điều trị sớm - Tránh biến chứng nguy hiểm từ bệnh lao

Nếu không được điều trị kịp thời người bệnh lao phổi có thể gặp một số biến chứng sau: Tràn dịch màng phổi, tràn khí màng phổi, ho ra máu. Sau khi chữa khỏi lao phổi vẫn có thể để lại một số di chứng như: suy hô hấp mãn, giãn phế quản, u nấm phổi, tràn khí màng phổi...

Để chẩn đoán bệnh lao, ngoài các triệu chứng nêu trên thì người bệnh cần làm một số xét nghiệm sau để có kết luận chính xác:

Chụp X-quang phổi

Tìm vi khuẩn lao trong đàm (đờm) bằng phương pháp nhuộm soi đàm trực tiếp hoặc kỹ thuật sinh học phân tử

Điều trị Lao phổi theo hướng cá thể hóa giúp nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân

Phương pháp điều trị bệnh lao phổi phổ biến hiện nay là dùng thuốc.

 Hầu hết các trường hợp lao phổi đều có thể chữa khỏi được khi tiến hành đúng phương pháp và đúng thuốc. Các phác đồ điều trị lao được phân ra tùy theo từng trường hợp cụ thể.


Dấu hiệu nặng của bệnh tay-chân-miệng

 Bệnh tay- chân- miệng 

gặp rải rác quanh năm và xuất hiện ở hầu hết các địa phương. Bệnh dễ gây thành dịch do virus đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71) .

Bệnh tay- chân- miệng lây từ người sang người

Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, nhất là  ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo là các nguy cơ lây truyền bệnh, nhất là  trong các đợt bùng phát dịch.

Bệnh tay chân miệng lây từ người sang người, bệnh lây truyền qua đường "phân - miệng" và tiếp xúc trực tiếp, nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của bệnh nhân trên dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà,.... nhất là khi bệnh nhân hắt hơi , nói chuyên. Đa số bệnh tay chân miệng không nguy hiểm, tuy nhiên bệnh do EV71 thường gây các biến chứng thần kinh nặng và có thể dẫn đến tử vong. Biểu hiện chính là tổn thương da -niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời..

Cần nhắc lại là đa số tiên lượng tốt nên bệnh chủ yếu được điều trị tại nhà, phụ huynh không nên hoảng hốt khi được bác sĩ chẩn đoán là tay chân miệng.

Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng, theo dõi sốt, phát hiện sớm những triệu chứng thần kinh như giật mình, hốt hoảng, nôn ói hay tiêu lỏng, và điều trị biến chứng, đảm bảo vệ sinh răng miệng, thân thể, đảm bảo cung cấp nước , dinh dưỡng cho trẻ.

Tổn thương do bệnh tay- chân- miệng

Cần đi khám lại ngay khi có dấu hiệu nặng

Cần đi khám lại ngay khi có dấu hiệu sau đây: Bệnh nhi sốt cao liên tục ≥ 39ºC khó hạ, thở mệt hay thở yếu, tiêu lỏng hay nôn ói nhiều, giật mình, chới với, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ, yếu hay liệt các chi, co giật hay hôn mê. Hiện tại chưa có vacxin phòng bệnh đặc hiệu, nên các biện pháp phòng bệnh chủ yếu sử dụng các biện pháp phòng bệnh phổ cập, áp dụng phòng bệnh cho bệnh lây qua đường tiếp xúc.

Hạn chế nguy cơ lây lan bệnh tay-chân-miệng

Bệnh tay- chân- miệng có thể lây theo đường tiêu hóa. Các chất tiết từ miệng như nước bọt, phân vấy qua vật dụng sinh hoạt, tay cửa cầm nắm, đồ chơi, sàng nhà,.. trẻ hoặc người chăm sóc trẻ sờ tay chạm phải, rồi trẻ đưa tay vào miệng hoặc đút ăn cho trẻ mà không rửa tay. Các siêu vi trùng có trong các chất tiết từ đường hô hấp như nước mũi bắn ra lúc ho, lúc hắt hơi có thể gây lây trực tiếp.

Do đó, trẻ em khi đi học ngồi, tiếp xúc gần gũi trong cùng một lớp học, ăn uống chung trong căn tin trường học thường dễ lây cho nhau. Hoặc các anh, chị, em cùng nhà, chơi chung và ăn chung mâm với nhau cũng có thể lây lan cho nhau. Đặc biệt trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo chơi đồ chơi chung, bò trườn trên sàng nhà càng dễ lây lan với nhau. Tất cả các yếu tố trên có thể làm bệnh tay- chân- miệng lây lan trong cộng đồng, đặc biệt là ở nơi đông dân cư.

Các biện pháp vệ sinh cá nhân như rửa tay bằng xà phòng cho trẻ và người chăm sóc trẻ trước khi chế biến thức ăn, cho trẻ ăn và sau khi làm vệ sinh cho trẻ khi trẻ đi cầu,.. là biện pháp vô cùng quan trọng. Trẻ cũng cần được tắm rửa, vệ sinh cơ thể mỗi ngày, vệ sinh răng miệng bằng cách cho trẻ súc miệng với nước muối pha loãng.

Tuy nhiên, để phòng ngừa và hạn chế bệnh tay- chân- miệng lây lan trong cộng đồng, các biện pháp vệ sinh, khử trùng, tẩy uế nơi ở, sinh hoạt, học hành cũng không kém phần quan trọng. Như đã biết, Enterovirus có tính kháng với cồn 700 và ether, tồn tại trong môi trường pH thấp (pH = 3), có thể vẫn còn hoạt động nhiều ngày trong nhiệt độ phòng, nên các chất sát trùng thông thường như cồn sát khuẩn không thể tiêu diệt được virus này. Mà muốn diệt các loại virus này phải dùng dung dịch Cloramin B 2% hay dung dịch nước Javel 0,5%.

Muốn có dung dịch Cloramin B 2%, chúng ta pha 20g Cloramin B trong một lít nước, hay dung dịch nước Javel 0,5% thì pha một phần Javel với 9 phần nước. Nếu dùng chai dung dịch Surfanios thì lấy 20ml hay 1 nắp, hoặc nếu dùng dạng gói thì 1 gói pha với 8 lít nước, ta sẽ được dung dịch có nồng độ 0,25%. Dùng các dung dịch này để lau sàng nhà, các tay cửa, vật cầm nắm,…Sau khi lau để khô trong 15 phút rồi lau lại bằng nước sạch. Đồng thời dùng các dung dịch trên để ngâm đồ chơi của trẻ trong thời gian 10 – 15 phút và rửa lại bằng nước sạch và cần thực hiện mỗi ngày.


Các biện pháp phòng ngừa bệnh tay-chân-miệng

-Giữ vệ sinh sạch sẽ nhà cửa, lau rửa vật dụng cá nhân, rửa và phơi nắng đồ chơi .

- Cho trẻ ăn thức ăn chín, uống nước đun sôi.

-Rửa tay sạch sẽ trước ăn và sau khi đi cầu.

-Cách ly khi có người nhà hoặc trong lớp học có trẻ nghi ngờ bị bệnh.

-Cho trẻ ăn uống đầy đủ và ngủ chơi hợp lý.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2020

Đặc điểm chung khi mắc sốt rét

  Sốt rét là một dạng bệnh lý nguy hiểm do ký sinh trùng sốt rét có tên Plasmodium gây nên, bệnh có khả năng lây từ người qua người thông qua các vết chích của muỗi Anophen. Các triệu chứng của sốt rét có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng tùy thuộc vào loại ký sinh trùng người bệnh nhiễm phải, sức khỏe và tình trạng nhiễm của người bệnh. Vậy làm thế nào để nhận biết là vô cùng quan trọng.

Bệnh sốt rét

 chủ yếu do muỗi truyền, có liên quan chặt chẽ với môi trường. Sốt rét thường đi kèm với đói nghèo, lạc hậu; căn bệnh này cũng là một cản trở lớn đối với phát triển kinh tế. Bệnh sốt rét khi xuất hiện, nếu không có những biện pháp ngăn chặn kịp thời trong cộng đồng sẽ gây ra những tình trạng lây lan rộng rãi.

Bệnh sốt rét lây truyền qua đường máu và có 4 phương thức lây truyền: 

Do muỗi truyền: đây là phương thức chủ yếu. Do truyền máu có nhiễm ký sinh trùng sốt rét. Do mẹ truyền sang con qua nhau thai bị tổn thương (hiếm gặp). Do tiêm chích: bơm tiêm dính máu có ký sinh trùng sốt rét, do tiêm chích ma túy.

Đặc điểm chung khi mắc sốt rét

Khi mới mắc bệnh, biểu hiện ban đầu có thể thấy như sốt, ớn lạnh, vã mồ hôi, cơ thể nhức mỏi, thường xuyên buồn nôn và ói mửa; các triệu chứng tái phát sau mỗi 48-72 giờ, tùy theo cơ thể của từng bệnh nhân và độ nhiễm virut sốt rét.

Đặc điểm chung của người mắc bệnh sốt rét là niêm mạc mắt nhợt, da xanh, người gầy, thường xuyên bị thiếu máu. Sốt rét khiến người bệnh suy dinh dưỡng, làm cho lách to, phù nề. Trẻ em mắc sốt rét dễ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn. Phụ nữ đang mang thai mắc sốt rét có thể khiến thai chết lưu, sẩy thai, đẻ non. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể trở thành ác tính và gây tử vong.

Các thể bệnh sốt rét

Sốt rét thể thông thường: 

Là những triệu chứng thường gặp ban đầu khi mắc bệnh sốt rét và không đe dọa đến tính mạng người bệnh. Tùy cơ thể mỗi người mà có những biểu hiện sốt khác nhau (sốt điển hình và sốt không điển hình):

Sốt điển hình với 3 giai đoạn: rét run - sốt - vã mồ hôi.

Sốt không điển hình: 

Là những biểu hiện sốt không thành cơ, hay ớn lạnh, rét và nổi da gà (ở những bệnh nhân mắc bệnh tại vùng dịch), hoặc sốt liên tục, dao động (ở bệnh nhân là trẻ em, người bị sốt rét lần đầu).

Sốt rét ác tính: 

Là trường hợp bệnh nhân sốt rét trở nặng, có những biến chứng nguy hiểm đe dọa đến tính mạng người bệnh, với các biểu hiện đặc biệt như: sốt cao liên tục; rối loạn ý thức nhẹ (ngủ li bì, mơ sảng, nói lẩm bẩm...); rối loạn tiêu hóa: buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng cấp, ói mửa...

Điều trị khi mắc sốt rét

Chẩn đoán sớm, điều trị càng sớm càng tốt để giảm bớt nguồn bệnh và cắt đường lan truyền ký sinh trùng. Nên điều trị càng sớm càng tốt ngay sau khi xuất hiện các triệu chứng (trẻ em trong vòng 12 giờ, người lớn trong vòng 24 giờ).

Điều trị cắt cơn kết hợp với điều trị chống lây lan (diệt giao bào); điều trị chống tái phát và điều trị sốt rét biến chứng phải theo đúng y lệnh của bác sĩ.

Nếu trong vùng có dịch, bệnh nhân sốt rét không cần phải cách ly nhưng cần điều trị tại cơ sở y tế để đảm bảo điều trị sớm, đúng phác đồ và chuyển bệnh nhân lên tuyến trên kịp thời khi có dấu hiệu tiền ác tính hoặc ác tính.

Phòng chống bệnh khi mắc sốt rét

Hiện nay, khi chưa có vắc-xin phòng ngừa sốt rét thì phương pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất là phòng chống muỗi truyền bệnh. Ngăn sự tiếp xúc giữa người và muỗi truyền bệnh; Diệt muỗi bằng phun tồn lưu và tẩm màn hóa chất diệt muỗi; Dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, đốt hương muỗi. Ở tất cả các cửa sổ cũng như cửa ra vào, người dân có thể đóng lưới và sử dụng quạt máy để giảm tối đa sự xâm nhập của muỗi vào nhà; Phun hóa chất diệt muỗi hoặc tẩm hóa chất vào màn, mắc màn mỗi khi đi ngủ được xem là biện pháp phòng bệnh sốt rét hữu hiệu nhất hiện nay. Bôi thuốc xua muỗi lên những nơi da hở, mặc áo dài tay, quần dài khi đi làm rừng, làm nương...; Phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh quanh nhà, làm nhà xa rừng và xa nguồn nước; Hạn chế bọ gậy: khơi thông dòng chảy, vớt rong rêu làm thoáng mặt nước.

Huy động cộng đồng, các đoàn thể tham gia phòng chống sốt rét; tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân về phòng chống sốt rét.

Chấn thương khớp

  Bạn đừng chủ quan nghĩ rằng chỉ những người vận động mạnh, lao động chân tay nhiều hay những vận động viên mới gặp phải các chấn thương liên quan đến khớp. Khi các khớp đã “có tuổi”, đặc biệt là khớp gối bị hao mòn do thời gian và cơ thể không thể duy trì đầy đủ dưỡng chất cho chúng, các khớp sẽ trở nên rất dễ bị tổn thương.

Sự nguy hiểm của các chấn thương khớp ở người già

Các chấn thương khớp này sẽ đáng sợ hơn gấp nhiều lần đối với những người bắt đầu từ tuổi trung niên 40 trở lên. Vì lúc này, các khớp đã có dấu hiệu của thoái hóa khớp, suy giảm chức năng khớp, thiếu chất (thiếu Vitamin B, Canxi, Collagen…). Bởi vì, lúc này khả năng phục hồi từ những chấn thương khớp giảm đáng kể, có thể gây tổn thương vĩnh viễn hoặc lâu lành nhưng để lại nhiều biến chứng và dễ bị tổn thương hơn trước.

Nguyên nhân chấn thương khớp 

thường gặp là do lực tác động lớn như: ngã, té, tai nạn giao thông, thậm chí chỉ là những sự cố trong các hoạt động hằng ngày,…làm đứt, rách bao khớp và dây chằng quanh khớp. Gây ra sưng bầm, đau đớn, cản trở vận động hoặc mất khả năng vận động, tàn phế, thậm chí là biến dạng và hậu quả ảnh hưởng lâu dài:

Chấn thương khớp làm tổn thương thể chất: 

Chấn thương khớp có thể đi chung với các tình trạng như gãy xương, tụ máu, tổn thương phần mềm,…

Chấn thương khớp làm tổn thương tinh thần:

 Người cao tuổi khi đã gặp các chấn thương khớp sẽ đâm lo lắng, sợ gặp phải chấn thương tiếp, nặng hơn có thể gây trầm cảm, cảm thấy cô đơn, bất lực hay hội chứng căng thẳng sau chấn thương. Từ đó hạn chế vận động, sinh hoạt thường ngày sẽ giảm dần, chất lượng cuộc sống suy giảm.

Các chấn thương ở khớp gây ra nhiều hậu quả về cả thể chất lẫn tinh thần (ảnh minh hoạ)

Các chấn thương khớp thường gặp phổ biến nhất ở người già

Chấn thương khớp gây Bong gân

Chấn thương bong gân (dây chằng cổ chân) là chấn thương rất phổ biến khi chơi thể thao và trong quá trình vận động sinh hoạt hàng ngày.

Tình trạng chấn thương khớp thường gặp này còn được gọi là chấn thương lật cổ chân hay ”lật sơ mi”. Khớp cổ chân sẽ đau, kèm theo sưng nề, bầm tím, giảm hoặc mất vận động. Bong gân khớp cổ chân là tình trạng các dây chằng xung quanh khớp cổ chân bị giãn quá mức, có thể dẫn đến rách một phần, một chùm hoặc nặng là rách toàn bộ dây chằng do tác động của lực chấn thương.

Cách xử lý nhanh:

- Chườm lạnh ngay tức, không chườm đá tiếp xúc trực tiếp lên da có thể gây bỏng lạnh.

- Nên băng ép, dùng băng thun nhẹ nhàng, ép vừa phải.

- Không chườm nóng, làm khớp sưng to hơn và rất lâu mới xẹp.

- Không dùng các phương pháp dân gian như chườm lá, bóp muối,…

Chấn thương khớp gây Trật khớp cổ tay

Khi bị trật khớp cổ tay, sẽ gây đau nhức dữ dội trong nhiều ngày, sưng, phù nề, khó cử động cổ tay, không thể cầm nắm vật nặng,…Thông thường, khi gặp chấn thương này bạn sẽ thấy đau nhẹ khi cử động cổ tay và có chiều hướng gia tăng khi càng vận động mạnh. Chấn thương khi luyện tập này liên quan đến sợi dây chằng nhỏ ở cổ tay và đây là nơi thường xuyên vận động nên khó có thể tự phục hồi sau 1-2 ngày.

Cách xử lý nhanh:

- Chườm đá lạnh lên cổ tay để làm dịu đau và sưng.

- Không nên tự ý sử dụng thuốc giảm đau hoặc làm theo các phương pháp dân gian.

- Cố định khớp tay vào đúng vị trí ban đầu, nếu bạn không biết cách thì phải cần đến bác sĩ, tuyệt đối không tự ý làm.

Chấn thương khớp gây Rách hoặc đứt dây chằng chéo trước đầu gối

Khớp gối là khớp yếu nhất của cơ thể, đây là khớp bản lề. Khi bị chấn thương dây chằng gối bạn sẽ bị sưng đau gối kéo dài, vùng quanh chấn thương mề, khó di chuyển, lỏng gối, teo cơ,… Nếu tình trạng này kéo dài và không được xử lý đúng cách có thể gây tổn thương thứ phát các thành phần khác trong khớp gối như rách sụn chêm, giãn các dây chằng còn lại, bề mặt sụn khớp bị bong tróc, thoái hóa khớp…

Cách xử lý nhanh Chấn thương khớp gây Rách hoặc đứt dây chằng chéo trước đầu gối

- Khi nghi ngờ bị chấn thương, liên hệ hoặc đến bệnh viện chẩn đoán và chữa trị kịp thời.

- Hạn chế và dừng vận động (48 giờ đầu).

- Xử lý chấn thương dây chằng gối còn tùy thuộc theo mức độ: Chườm đá, dùng thuốc giảm đau, vật lý trị liệu, nếu đứt hoàn toàn còn phải thực hiện phẫu thuật.

Chấn thương khớp gây Chấn thương sụn chêm khớp gối

Là tổn thương hay gặp nhất ở khớp gối trong chấn thương thể thao (cầu thủ bóng đá), ở người lớn tuổi sụn chêm thường bị rách do thoái hóa, đứng ngồi đột ngột. Với các sụn chêm rách nhỏ có cảm giác đau nhẹ và sưng khớp gối, thường kéo dài từ 2-3 tuần.

Ở những người lớn tuổi, rách sụn chêm có thể không biết. Người bệnh chỉ biết cảm giác đau khớp gối khi ngồi xổm hoặc khi gối vặn xoắn. Đau và sưng nhẹ khớp gối thường là triệu chứng dễ thấy của bệnh.

Cách xử lý nhanh:

- Khi nghi ngờ bị chấn thương, dừng vận động, liên hệ hoặc đến bệnh viện chẩn đoán và xử lý kịp thời.

- Xử lý chấn thương còn tùy thuộc theo mức độ: Chườm đá, dùng thuốc giảm đau, vật lý trị liệu, năng có thể phải mổ nội soi,…

Chấn thương khớp gây Chấn thương khớp vai

Các chấn thương khớp thường gặp ở vai rất dễ để nhận biết, do trật khớp, sai lệch, căng cơ và bong gân dây chằng. Khi khớp vai bị tổn thương, khớp vai trở nên cứng hơn, không thể quay cánh tay theo ý muốn, lực yếu và bị hạn chế vận động,…

Nếu tình trạng chấn thương kéo dài sẽ khiến việc xử lý trở nên khó khăn hơn do gân cơ bị thoái biến. Đặc biệt các trường hợp chấn thương cơ xoay vai nếu không được xử lý kịp thời sẽ khiến cho gân cơ bị tụt vào trong và thoái hóa mỡ, lúc này người bệnh sẽ phải trải qua cuộc phẫu thuật lớn để thay khớp vai.

Cách xử lý nhanh:

- Khi nghi ngờ bị chấn thương, liên hệ hoặc đến bệnh viện chẩn đoán để xử lý kịp thời.

- Hạn chế và dừng vận động khiêng vác nặng.

- Chườm đá vùng vai bị đau 2-3 lần trong ngày, mỗi lần khoảng 15 phút.

- Việc xử lý chấn thương còn tùy thuộc theo mức độ: Chườm đá, dùng thuốc giảm đau, vật lý trị liệu, năng có thể phải mổ nội soi,…

Phòng chống và ngăn chặn các nguy cơ chấn thương thường gặp này

Loại bỏ những yếu tố chủ quan môi trường có thể gây ra các tai nạn té ngã như thảm, sàn nhà, dây điện, đèn mờ, cầu thang,…

Hạn chế những vận động thể chất cường độ quá mạnh hay tính nguy hiểm cao, đặc biệt bảo vệ bản thân an toàn khi tham gia giao thông.

Duy trì lối sống và dinh dưỡng lành mạnh giúp xương khớp chắc khỏe, dẻo dai ngay từ độ tuổi trưởng thành như:

-Chế độ ăn uống đủ dinh dưỡng: Bổ sung vitamin D, sắt (Iron), canxi và các loại thực phẩm giàu protein và tinh bột. Đồng thời luôn đảm bảo uống đủ nước. Không sử dụng các chất kích thích như đồ uống có cồn, rượu bia, thuốc lá,…

-Duy trì vận động thể thao: giúp duy trì và tăng cường sức khỏe cơ, khớp dẻo dai. Người cao tuổi có thể tham gia các lớp khiêu vũ, tập dưỡng sinh, yoga,…

- Kiểm tra sức khỏe định kỳ: Đặc biệt đối với người cao tuổi, nhằm phát hiện sớm những nguy cơ và phòng ngừa kịp thời.