Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

Dấu hiệu nặng của bệnh tay-chân-miệng

 Bệnh tay- chân- miệng 

gặp rải rác quanh năm và xuất hiện ở hầu hết các địa phương. Bệnh dễ gây thành dịch do virus đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71) .

Bệnh tay- chân- miệng lây từ người sang người

Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, nhất là  ở nhóm tuổi dưới 3 tuổi. Các yếu tố sinh hoạt tập thể như trẻ đi học tại nhà trẻ, mẫu giáo là các nguy cơ lây truyền bệnh, nhất là  trong các đợt bùng phát dịch.

Bệnh tay chân miệng lây từ người sang người, bệnh lây truyền qua đường "phân - miệng" và tiếp xúc trực tiếp, nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của bệnh nhân trên dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà,.... nhất là khi bệnh nhân hắt hơi , nói chuyên. Đa số bệnh tay chân miệng không nguy hiểm, tuy nhiên bệnh do EV71 thường gây các biến chứng thần kinh nặng và có thể dẫn đến tử vong. Biểu hiện chính là tổn thương da -niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối. Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời..

Cần nhắc lại là đa số tiên lượng tốt nên bệnh chủ yếu được điều trị tại nhà, phụ huynh không nên hoảng hốt khi được bác sĩ chẩn đoán là tay chân miệng.

Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng, theo dõi sốt, phát hiện sớm những triệu chứng thần kinh như giật mình, hốt hoảng, nôn ói hay tiêu lỏng, và điều trị biến chứng, đảm bảo vệ sinh răng miệng, thân thể, đảm bảo cung cấp nước , dinh dưỡng cho trẻ.

Tổn thương do bệnh tay- chân- miệng

Cần đi khám lại ngay khi có dấu hiệu nặng

Cần đi khám lại ngay khi có dấu hiệu sau đây: Bệnh nhi sốt cao liên tục ≥ 39ºC khó hạ, thở mệt hay thở yếu, tiêu lỏng hay nôn ói nhiều, giật mình, chới với, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ, yếu hay liệt các chi, co giật hay hôn mê. Hiện tại chưa có vacxin phòng bệnh đặc hiệu, nên các biện pháp phòng bệnh chủ yếu sử dụng các biện pháp phòng bệnh phổ cập, áp dụng phòng bệnh cho bệnh lây qua đường tiếp xúc.

Hạn chế nguy cơ lây lan bệnh tay-chân-miệng

Bệnh tay- chân- miệng có thể lây theo đường tiêu hóa. Các chất tiết từ miệng như nước bọt, phân vấy qua vật dụng sinh hoạt, tay cửa cầm nắm, đồ chơi, sàng nhà,.. trẻ hoặc người chăm sóc trẻ sờ tay chạm phải, rồi trẻ đưa tay vào miệng hoặc đút ăn cho trẻ mà không rửa tay. Các siêu vi trùng có trong các chất tiết từ đường hô hấp như nước mũi bắn ra lúc ho, lúc hắt hơi có thể gây lây trực tiếp.

Do đó, trẻ em khi đi học ngồi, tiếp xúc gần gũi trong cùng một lớp học, ăn uống chung trong căn tin trường học thường dễ lây cho nhau. Hoặc các anh, chị, em cùng nhà, chơi chung và ăn chung mâm với nhau cũng có thể lây lan cho nhau. Đặc biệt trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo chơi đồ chơi chung, bò trườn trên sàng nhà càng dễ lây lan với nhau. Tất cả các yếu tố trên có thể làm bệnh tay- chân- miệng lây lan trong cộng đồng, đặc biệt là ở nơi đông dân cư.

Các biện pháp vệ sinh cá nhân như rửa tay bằng xà phòng cho trẻ và người chăm sóc trẻ trước khi chế biến thức ăn, cho trẻ ăn và sau khi làm vệ sinh cho trẻ khi trẻ đi cầu,.. là biện pháp vô cùng quan trọng. Trẻ cũng cần được tắm rửa, vệ sinh cơ thể mỗi ngày, vệ sinh răng miệng bằng cách cho trẻ súc miệng với nước muối pha loãng.

Tuy nhiên, để phòng ngừa và hạn chế bệnh tay- chân- miệng lây lan trong cộng đồng, các biện pháp vệ sinh, khử trùng, tẩy uế nơi ở, sinh hoạt, học hành cũng không kém phần quan trọng. Như đã biết, Enterovirus có tính kháng với cồn 700 và ether, tồn tại trong môi trường pH thấp (pH = 3), có thể vẫn còn hoạt động nhiều ngày trong nhiệt độ phòng, nên các chất sát trùng thông thường như cồn sát khuẩn không thể tiêu diệt được virus này. Mà muốn diệt các loại virus này phải dùng dung dịch Cloramin B 2% hay dung dịch nước Javel 0,5%.

Muốn có dung dịch Cloramin B 2%, chúng ta pha 20g Cloramin B trong một lít nước, hay dung dịch nước Javel 0,5% thì pha một phần Javel với 9 phần nước. Nếu dùng chai dung dịch Surfanios thì lấy 20ml hay 1 nắp, hoặc nếu dùng dạng gói thì 1 gói pha với 8 lít nước, ta sẽ được dung dịch có nồng độ 0,25%. Dùng các dung dịch này để lau sàng nhà, các tay cửa, vật cầm nắm,…Sau khi lau để khô trong 15 phút rồi lau lại bằng nước sạch. Đồng thời dùng các dung dịch trên để ngâm đồ chơi của trẻ trong thời gian 10 – 15 phút và rửa lại bằng nước sạch và cần thực hiện mỗi ngày.


Các biện pháp phòng ngừa bệnh tay-chân-miệng

-Giữ vệ sinh sạch sẽ nhà cửa, lau rửa vật dụng cá nhân, rửa và phơi nắng đồ chơi .

- Cho trẻ ăn thức ăn chín, uống nước đun sôi.

-Rửa tay sạch sẽ trước ăn và sau khi đi cầu.

-Cách ly khi có người nhà hoặc trong lớp học có trẻ nghi ngờ bị bệnh.

-Cho trẻ ăn uống đầy đủ và ngủ chơi hợp lý.

Thứ Sáu, 18 tháng 9, 2020

Đặc điểm chung khi mắc sốt rét

  Sốt rét là một dạng bệnh lý nguy hiểm do ký sinh trùng sốt rét có tên Plasmodium gây nên, bệnh có khả năng lây từ người qua người thông qua các vết chích của muỗi Anophen. Các triệu chứng của sốt rét có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng tùy thuộc vào loại ký sinh trùng người bệnh nhiễm phải, sức khỏe và tình trạng nhiễm của người bệnh. Vậy làm thế nào để nhận biết là vô cùng quan trọng.

Bệnh sốt rét

 chủ yếu do muỗi truyền, có liên quan chặt chẽ với môi trường. Sốt rét thường đi kèm với đói nghèo, lạc hậu; căn bệnh này cũng là một cản trở lớn đối với phát triển kinh tế. Bệnh sốt rét khi xuất hiện, nếu không có những biện pháp ngăn chặn kịp thời trong cộng đồng sẽ gây ra những tình trạng lây lan rộng rãi.

Bệnh sốt rét lây truyền qua đường máu và có 4 phương thức lây truyền: 

Do muỗi truyền: đây là phương thức chủ yếu. Do truyền máu có nhiễm ký sinh trùng sốt rét. Do mẹ truyền sang con qua nhau thai bị tổn thương (hiếm gặp). Do tiêm chích: bơm tiêm dính máu có ký sinh trùng sốt rét, do tiêm chích ma túy.

Đặc điểm chung khi mắc sốt rét

Khi mới mắc bệnh, biểu hiện ban đầu có thể thấy như sốt, ớn lạnh, vã mồ hôi, cơ thể nhức mỏi, thường xuyên buồn nôn và ói mửa; các triệu chứng tái phát sau mỗi 48-72 giờ, tùy theo cơ thể của từng bệnh nhân và độ nhiễm virut sốt rét.

Đặc điểm chung của người mắc bệnh sốt rét là niêm mạc mắt nhợt, da xanh, người gầy, thường xuyên bị thiếu máu. Sốt rét khiến người bệnh suy dinh dưỡng, làm cho lách to, phù nề. Trẻ em mắc sốt rét dễ bị suy dinh dưỡng, chậm lớn. Phụ nữ đang mang thai mắc sốt rét có thể khiến thai chết lưu, sẩy thai, đẻ non. Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể trở thành ác tính và gây tử vong.

Các thể bệnh sốt rét

Sốt rét thể thông thường: 

Là những triệu chứng thường gặp ban đầu khi mắc bệnh sốt rét và không đe dọa đến tính mạng người bệnh. Tùy cơ thể mỗi người mà có những biểu hiện sốt khác nhau (sốt điển hình và sốt không điển hình):

Sốt điển hình với 3 giai đoạn: rét run - sốt - vã mồ hôi.

Sốt không điển hình: 

Là những biểu hiện sốt không thành cơ, hay ớn lạnh, rét và nổi da gà (ở những bệnh nhân mắc bệnh tại vùng dịch), hoặc sốt liên tục, dao động (ở bệnh nhân là trẻ em, người bị sốt rét lần đầu).

Sốt rét ác tính: 

Là trường hợp bệnh nhân sốt rét trở nặng, có những biến chứng nguy hiểm đe dọa đến tính mạng người bệnh, với các biểu hiện đặc biệt như: sốt cao liên tục; rối loạn ý thức nhẹ (ngủ li bì, mơ sảng, nói lẩm bẩm...); rối loạn tiêu hóa: buồn nôn, tiêu chảy, đau bụng cấp, ói mửa...

Điều trị khi mắc sốt rét

Chẩn đoán sớm, điều trị càng sớm càng tốt để giảm bớt nguồn bệnh và cắt đường lan truyền ký sinh trùng. Nên điều trị càng sớm càng tốt ngay sau khi xuất hiện các triệu chứng (trẻ em trong vòng 12 giờ, người lớn trong vòng 24 giờ).

Điều trị cắt cơn kết hợp với điều trị chống lây lan (diệt giao bào); điều trị chống tái phát và điều trị sốt rét biến chứng phải theo đúng y lệnh của bác sĩ.

Nếu trong vùng có dịch, bệnh nhân sốt rét không cần phải cách ly nhưng cần điều trị tại cơ sở y tế để đảm bảo điều trị sớm, đúng phác đồ và chuyển bệnh nhân lên tuyến trên kịp thời khi có dấu hiệu tiền ác tính hoặc ác tính.

Phòng chống bệnh khi mắc sốt rét

Hiện nay, khi chưa có vắc-xin phòng ngừa sốt rét thì phương pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất là phòng chống muỗi truyền bệnh. Ngăn sự tiếp xúc giữa người và muỗi truyền bệnh; Diệt muỗi bằng phun tồn lưu và tẩm màn hóa chất diệt muỗi; Dọn dẹp nhà cửa gọn gàng, đốt hương muỗi. Ở tất cả các cửa sổ cũng như cửa ra vào, người dân có thể đóng lưới và sử dụng quạt máy để giảm tối đa sự xâm nhập của muỗi vào nhà; Phun hóa chất diệt muỗi hoặc tẩm hóa chất vào màn, mắc màn mỗi khi đi ngủ được xem là biện pháp phòng bệnh sốt rét hữu hiệu nhất hiện nay. Bôi thuốc xua muỗi lên những nơi da hở, mặc áo dài tay, quần dài khi đi làm rừng, làm nương...; Phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh quanh nhà, làm nhà xa rừng và xa nguồn nước; Hạn chế bọ gậy: khơi thông dòng chảy, vớt rong rêu làm thoáng mặt nước.

Huy động cộng đồng, các đoàn thể tham gia phòng chống sốt rét; tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân về phòng chống sốt rét.

Chấn thương khớp

  Bạn đừng chủ quan nghĩ rằng chỉ những người vận động mạnh, lao động chân tay nhiều hay những vận động viên mới gặp phải các chấn thương liên quan đến khớp. Khi các khớp đã “có tuổi”, đặc biệt là khớp gối bị hao mòn do thời gian và cơ thể không thể duy trì đầy đủ dưỡng chất cho chúng, các khớp sẽ trở nên rất dễ bị tổn thương.

Sự nguy hiểm của các chấn thương khớp ở người già

Các chấn thương khớp này sẽ đáng sợ hơn gấp nhiều lần đối với những người bắt đầu từ tuổi trung niên 40 trở lên. Vì lúc này, các khớp đã có dấu hiệu của thoái hóa khớp, suy giảm chức năng khớp, thiếu chất (thiếu Vitamin B, Canxi, Collagen…). Bởi vì, lúc này khả năng phục hồi từ những chấn thương khớp giảm đáng kể, có thể gây tổn thương vĩnh viễn hoặc lâu lành nhưng để lại nhiều biến chứng và dễ bị tổn thương hơn trước.

Nguyên nhân chấn thương khớp 

thường gặp là do lực tác động lớn như: ngã, té, tai nạn giao thông, thậm chí chỉ là những sự cố trong các hoạt động hằng ngày,…làm đứt, rách bao khớp và dây chằng quanh khớp. Gây ra sưng bầm, đau đớn, cản trở vận động hoặc mất khả năng vận động, tàn phế, thậm chí là biến dạng và hậu quả ảnh hưởng lâu dài:

Chấn thương khớp làm tổn thương thể chất: 

Chấn thương khớp có thể đi chung với các tình trạng như gãy xương, tụ máu, tổn thương phần mềm,…

Chấn thương khớp làm tổn thương tinh thần:

 Người cao tuổi khi đã gặp các chấn thương khớp sẽ đâm lo lắng, sợ gặp phải chấn thương tiếp, nặng hơn có thể gây trầm cảm, cảm thấy cô đơn, bất lực hay hội chứng căng thẳng sau chấn thương. Từ đó hạn chế vận động, sinh hoạt thường ngày sẽ giảm dần, chất lượng cuộc sống suy giảm.

Các chấn thương ở khớp gây ra nhiều hậu quả về cả thể chất lẫn tinh thần (ảnh minh hoạ)

Các chấn thương khớp thường gặp phổ biến nhất ở người già

Chấn thương khớp gây Bong gân

Chấn thương bong gân (dây chằng cổ chân) là chấn thương rất phổ biến khi chơi thể thao và trong quá trình vận động sinh hoạt hàng ngày.

Tình trạng chấn thương khớp thường gặp này còn được gọi là chấn thương lật cổ chân hay ”lật sơ mi”. Khớp cổ chân sẽ đau, kèm theo sưng nề, bầm tím, giảm hoặc mất vận động. Bong gân khớp cổ chân là tình trạng các dây chằng xung quanh khớp cổ chân bị giãn quá mức, có thể dẫn đến rách một phần, một chùm hoặc nặng là rách toàn bộ dây chằng do tác động của lực chấn thương.

Cách xử lý nhanh:

- Chườm lạnh ngay tức, không chườm đá tiếp xúc trực tiếp lên da có thể gây bỏng lạnh.

- Nên băng ép, dùng băng thun nhẹ nhàng, ép vừa phải.

- Không chườm nóng, làm khớp sưng to hơn và rất lâu mới xẹp.

- Không dùng các phương pháp dân gian như chườm lá, bóp muối,…

Chấn thương khớp gây Trật khớp cổ tay

Khi bị trật khớp cổ tay, sẽ gây đau nhức dữ dội trong nhiều ngày, sưng, phù nề, khó cử động cổ tay, không thể cầm nắm vật nặng,…Thông thường, khi gặp chấn thương này bạn sẽ thấy đau nhẹ khi cử động cổ tay và có chiều hướng gia tăng khi càng vận động mạnh. Chấn thương khi luyện tập này liên quan đến sợi dây chằng nhỏ ở cổ tay và đây là nơi thường xuyên vận động nên khó có thể tự phục hồi sau 1-2 ngày.

Cách xử lý nhanh:

- Chườm đá lạnh lên cổ tay để làm dịu đau và sưng.

- Không nên tự ý sử dụng thuốc giảm đau hoặc làm theo các phương pháp dân gian.

- Cố định khớp tay vào đúng vị trí ban đầu, nếu bạn không biết cách thì phải cần đến bác sĩ, tuyệt đối không tự ý làm.

Chấn thương khớp gây Rách hoặc đứt dây chằng chéo trước đầu gối

Khớp gối là khớp yếu nhất của cơ thể, đây là khớp bản lề. Khi bị chấn thương dây chằng gối bạn sẽ bị sưng đau gối kéo dài, vùng quanh chấn thương mề, khó di chuyển, lỏng gối, teo cơ,… Nếu tình trạng này kéo dài và không được xử lý đúng cách có thể gây tổn thương thứ phát các thành phần khác trong khớp gối như rách sụn chêm, giãn các dây chằng còn lại, bề mặt sụn khớp bị bong tróc, thoái hóa khớp…

Cách xử lý nhanh Chấn thương khớp gây Rách hoặc đứt dây chằng chéo trước đầu gối

- Khi nghi ngờ bị chấn thương, liên hệ hoặc đến bệnh viện chẩn đoán và chữa trị kịp thời.

- Hạn chế và dừng vận động (48 giờ đầu).

- Xử lý chấn thương dây chằng gối còn tùy thuộc theo mức độ: Chườm đá, dùng thuốc giảm đau, vật lý trị liệu, nếu đứt hoàn toàn còn phải thực hiện phẫu thuật.

Chấn thương khớp gây Chấn thương sụn chêm khớp gối

Là tổn thương hay gặp nhất ở khớp gối trong chấn thương thể thao (cầu thủ bóng đá), ở người lớn tuổi sụn chêm thường bị rách do thoái hóa, đứng ngồi đột ngột. Với các sụn chêm rách nhỏ có cảm giác đau nhẹ và sưng khớp gối, thường kéo dài từ 2-3 tuần.

Ở những người lớn tuổi, rách sụn chêm có thể không biết. Người bệnh chỉ biết cảm giác đau khớp gối khi ngồi xổm hoặc khi gối vặn xoắn. Đau và sưng nhẹ khớp gối thường là triệu chứng dễ thấy của bệnh.

Cách xử lý nhanh:

- Khi nghi ngờ bị chấn thương, dừng vận động, liên hệ hoặc đến bệnh viện chẩn đoán và xử lý kịp thời.

- Xử lý chấn thương còn tùy thuộc theo mức độ: Chườm đá, dùng thuốc giảm đau, vật lý trị liệu, năng có thể phải mổ nội soi,…

Chấn thương khớp gây Chấn thương khớp vai

Các chấn thương khớp thường gặp ở vai rất dễ để nhận biết, do trật khớp, sai lệch, căng cơ và bong gân dây chằng. Khi khớp vai bị tổn thương, khớp vai trở nên cứng hơn, không thể quay cánh tay theo ý muốn, lực yếu và bị hạn chế vận động,…

Nếu tình trạng chấn thương kéo dài sẽ khiến việc xử lý trở nên khó khăn hơn do gân cơ bị thoái biến. Đặc biệt các trường hợp chấn thương cơ xoay vai nếu không được xử lý kịp thời sẽ khiến cho gân cơ bị tụt vào trong và thoái hóa mỡ, lúc này người bệnh sẽ phải trải qua cuộc phẫu thuật lớn để thay khớp vai.

Cách xử lý nhanh:

- Khi nghi ngờ bị chấn thương, liên hệ hoặc đến bệnh viện chẩn đoán để xử lý kịp thời.

- Hạn chế và dừng vận động khiêng vác nặng.

- Chườm đá vùng vai bị đau 2-3 lần trong ngày, mỗi lần khoảng 15 phút.

- Việc xử lý chấn thương còn tùy thuộc theo mức độ: Chườm đá, dùng thuốc giảm đau, vật lý trị liệu, năng có thể phải mổ nội soi,…

Phòng chống và ngăn chặn các nguy cơ chấn thương thường gặp này

Loại bỏ những yếu tố chủ quan môi trường có thể gây ra các tai nạn té ngã như thảm, sàn nhà, dây điện, đèn mờ, cầu thang,…

Hạn chế những vận động thể chất cường độ quá mạnh hay tính nguy hiểm cao, đặc biệt bảo vệ bản thân an toàn khi tham gia giao thông.

Duy trì lối sống và dinh dưỡng lành mạnh giúp xương khớp chắc khỏe, dẻo dai ngay từ độ tuổi trưởng thành như:

-Chế độ ăn uống đủ dinh dưỡng: Bổ sung vitamin D, sắt (Iron), canxi và các loại thực phẩm giàu protein và tinh bột. Đồng thời luôn đảm bảo uống đủ nước. Không sử dụng các chất kích thích như đồ uống có cồn, rượu bia, thuốc lá,…

-Duy trì vận động thể thao: giúp duy trì và tăng cường sức khỏe cơ, khớp dẻo dai. Người cao tuổi có thể tham gia các lớp khiêu vũ, tập dưỡng sinh, yoga,…

- Kiểm tra sức khỏe định kỳ: Đặc biệt đối với người cao tuổi, nhằm phát hiện sớm những nguy cơ và phòng ngừa kịp thời.

Mối liên hệ giữa bệnh viêm nha chu và các bệnh tim mạch

 Viêm nha chu và bệnh tim mạch là hai bệnh lý phổ biến trong dân số có mối quan hệ mật thiết với nhau.

Viêm nha chu và bệnh tim mạch

Viêm nha chu 

là một bệnh lý răng miệng phổ biến ảnh hưởng đến khoảng 20% dân số thế giới. Bệnh khởi phát do sự thay đổi cơ cấu vi sinh vật trong mảng bám răng tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh phát triển mạnh trong mảng bám và xâm nhập vào mô nha chu gây viêm.

Bệnh tim mạch 

là một nhóm những bệnh lý về tim và hệ mạch máu  thuộc nhóm gây tử vong nhiều trên thế giới với khoảng 17,5 triệu người chết mỗi năm (WHO-2012). Một số bệnh lý tim mạch phổ biến là: Tai biến mạch máu não, suy tim, nhồi máu cơ tim, huyết khối tĩnh mạch sâu…Trên thực tế, viêm nha chu và bệnh tim mạch có những mối liên hệ mật thiết với nhau như: Cả hai có cùng nhiều yếu tố nguy cơ, cũng như sự liên hệ của hai với quá trình hình thành phản ứng viêm của cơ thể...

Nhóm yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh với bệnh viêm nha chu và bệnh tim mạch

Bên cạnh các yếu tố nguy cơ riêng biệt của mỗi bệnh viêm nha chu và bệnh tim mạch, cả hai đều có những nhóm yếu tố nguy cơ chung như:

- Giới tính: Nam nhiều hơn nữ.

- Hút thuốc lá: Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hút thuốc là làm tăng nguy cơ mắc viêm nha chu lên hơn 5 lần và tăng nguy cơ  mắc bệnh tim mạch .

- Tiểu đường không kiểm soát là con đường ngắn nhất dẫn đến các bệnh tim mạch như xơ vữa động mạch, huyết khối, tai biến mạch máu não, suy tim… Song song đó tiểu đường có mối quan hệ mật thiết hai chiều với viêm nha chu (Tham khảo Bệnh viêm nha chu ở người mắc bệnh đái tháo đường).

- Béo phì.

- Cao huyết áp không kiểm soát.

- Rối loạn lipid máu.

Mối liên hệ giữa bệnh viêm nha chu và một số bệnh tim mạch

Trong hàng chục năm qua, đã có nhiều nghiên cứu để làm rõ về mối liên hệ giữa viêm nha chu và bệnh tim mạch. Tuy vẫn còn nhiều tranh cãi nhưng mối liên hệ giữa hai căn bệnh phổ biến này có thể giải thích thông qua cơ chế kích hoạt phản ứng viêm của cơ thể.

- Phản ứng viêm trong cơ thể xảy ra khi các tế bào (ở đây là tế bào mô nha chu) bị tấn công bởi mầm bệnh và phá hủy sẽ kích thích phóng thích các protein phản ứng C (CRP) vào máu. CRP sẽ kích hoạt phản ứng gây viêm – nếu xảy ra trong thành mạch sẽ tạo điều kiện hình thành nên các mảng xơ vữa trong động mạch. Chính vì vậy, thông qua việc gia tăng nồng độ CRP - bệnh viêm nha chu làm tăng nguy cơ mắc các hội chứng tim mạch như tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim ở người.

- Bên cạnh đó khi các phản ứng viêm được kích hoạt sẽ dẫn đến sự phóng thích các chất trung gian hóa học như Cytokine, Interleukin và hoạt hóa các chuỗi phản ứng oxi hóa trong cơ thể. Điều này có thể dẫn đến sự tổn hại đến AND của tế bào làm chết tế bào, kích hoạt sự tái cấu trúc tế bào cơ tim, làm tăng tốc sự chết theo chu kỳ của các tế bào cơ tim… từ đó làm tăng nguy cơ mắc suy tim ở người bệnh.

Bệnh tim và viêm nhiễm mạn tính

- Bên cạnh việc kích hoạt chuỗi phản ứng viêm của cơ thể; vi khuẩn từ mảng bám có thể xâm nhập vào mạch máu từ mô nha chu bị viêm, từ đó tạo nên các ổ nhiễm trùng trong lòng mạch. Các ổ nhiễm trùng này có thể tạo thành các mảng xơ vữa hay nguy hiểm hơn gây viêm nội tâm mạc bán cấp.

=> Chính những điều trên đã thể hiện rằng: Viêm nha chu đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng nguy cơ mắc các hội chứng tim mạch cấp và mạn tính. Từ đó để phòng ngừa tốt các bệnh lý tim mạch bên cạnh việc thay đổi lối sống và kiểm soát các yếu tố nguy cơ thông thường như tiểu đường, cao huyết áp thì việc phòng ngừa và đẩy lùi bệnh viêm nha chu là cần thiết và không thể xem thường.

Đẩy lùi viêm nha chu

Mục tiêu của việc đẩy lùi viêm nha chu là làm sạch mảng bám và các túi nha chu xung quanh răng và ngăn chặn tổn thương cho xương ổ răng. Việc này phải đi kèm với việc thay đổi lối sống như bỏ thuốc lá, chải răng ngay sau khi ăn.

- Cạo vôi để loại bỏ cao răng và vi khuẩn khỏi bề mặt răng và bên dưới nướu.

- Bào láng gốc răng (Root planing) làm mịn bề mặt chân răng, ngăn chặn tích tụ cao răng và vi khuẩn.

- Tiến hành phẫu thuật khi bệnh viêm nha chu tiến triển nặng

- Xử lý nhiễm khuẩn: Kháng sinh thường được sử dụng là Spiramycin kết hợp với Metronidazole.

Phòng ngừa bệnh viêm nha chu

- Vệ sinh răng miệng đúng cách.

- Chải răng đúng cách tránh gây tổn thương cho lợi, nướu. Chải răng đúng cách như sau:

+ Đặt bàn chải nghiêng một góc 45 độ với hàm, chải vòng tròn theo chiều dọc của răng, chải lần lượt theo từng nhóm gồm 2-3 chiếc răng, thực hiện liên tục đến khi đi hết bề ngoài của hàm.

+ Đưa bàn chải vào bề mặt bên trong của các răng, cách chải tương tự như mặt ngoài.

+ Đến vị trí các răng cửa phía trước, đặt bàn chải theo chiều dọc, ngửa đầu bàn chải và đưa vào mặt bên trong của hàm trên, thực hiện động tác lên – xuống để chải các răng cửa phía trên.

+ Thực hiện tương tự với các răng cửa phía dưới.

+ Đặt bề mặt lông bàn chải tiếp xúc với bề mặt nhai của các răng hai bên, chải từ trước ra sau.

+ Dùng lông bàn chải hoặc dụng cụ chải lưỡi để loại bỏ các mảng bám thức ăn trên bề mặt lưỡi.

+ Súc miệng lại bằng nước sạch 3 – 4 lần để đảm bảo làm trôi hết các vụn thức ăn, các mảng bám và kem đánh răng.

+ Thay bàn chải khi đầu lông bàn chải mòn và không còn thẳng

- Sử dụng nước súc miệng để đánh bay triệt để các mảng bám và giúp hơi thở thơm mát hơn.

- Khám răng định kỳ 06 tháng 1 lần.

Rối loạn tiêu hóa thường gặp trong mùa hè

 Mùa hè, cơ thể mất nước thoát ra theo mồ hôi, nhiệt độ môi trường cao khiến cơ thể luôn mệt mỏi, sức đề kháng kém, vì vậy rất dễ mắc các rối loạn tiêu hóa. Nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời các rối loạn này đúng cách, người bệnh có thể gặp nguy hiểm.

Nhận diện các rối loạn tiêu hóa thường gặp

Rối loạn tiêu hóa do nhiễm độc thức ăn: 

Nhiễm khuẩn do ăn phải thức ăn đã bị ô nhiễm bởi vi khuẩn gây bệnh là tình trạng hay gặp trong mùa hè. Điển hình là nhiễm độc thức ăn do Salmonella. Bệnh chủ yếu lây bằng đường tiêu hóa, khi ăn các thức ăn có nguồn gốc động vật bị ô nhiễm Salmonella như thịt, đặc biệt thịt tái, sống, sữa, trứng (gà, vịt), trai, sò, hến nấu chưa chín...Bên cạnh đó, người mang khuẩn lành hoặc người bệnh trong thời kỳ hồi phục có thể là nguồn lây cho người khác.

Từ khi nhiễm Salmonella đến khi khởi phát khoảng 12-36 giờ. Mức độ nhẹ, người bị nhiễm độc không sốt, đi ngoài phân lỏng vài lần, bụng hơi đau. Mức độ vừa và nặng với biểu hiện nhiễm độc: sốt 38-40oC, có lúc có cơn rét run, đau đầu, đau mỏi cơ khớp, đau bụng vùng thượng vị và quanh rốn, đôi khi đau lan tỏa khắp bụng, sôi bụng. Buồn nôn và nôn nhiều lần. Đi ngoài nhiều lần trong ngày, phân lỏng. Mất nước điện giải (khát nước, môi khô, mắt trũng, gầy sút, vẻ mặt hốc hác, nếu nặng hơn thì mạch nhanh, nhỏ, huyết áp tụt, kẹt, thiểu niệu, bụng trướng, chuột rút, chân tay lạnh, trẻ nhỏ thóp trũng, khóc không có nước mắt...). Với cơ thể khỏe mạnh thường tự khỏi bệnh sau 2-3 ngày, đôi khi đi ngoài phân lỏng có thể kéo dài tới 1 tuần.


Nhiễm độc thức ăn xảy ra khi ăn phải thực phẩm nhiễm khuẩn Salmonella.

Nhiễm độc thức ăn xảy ra khi ăn phải thực phẩm nhiễm khuẩn Salmonella.

Rối loạn tiêu hóa do đầy hơi, trướng bụng: 

Khi ăn quá nhiều chất đạm, bột đường, dầu mỡ, thức ăn không được tiêu hóa hết sẽ tồn đọng lâu trong ống tiêu hóa. Ăn đồ cay nóng, uống nhiều rượu bia, cà phê, sử dụng chất kích thích hoặc do thói quen ăn uống quá nhanh, nhai không kỹ, ăn xong đi nằm ngay... sẽ khiến lợi khuẩn đường ruột bị quá tải, không xử lý được hết thức ăn gây đầy hơi, trướng bụng, khó tiêu.

Người bị đầy bụng, khó tiêu thường có cảm giác nặng bụng, căng trướng vùng thượng vị (dưới xương ức), cơ thể bứt rứt, khó chịu, ợ hơi, ợ chua, bụng đau âm ỉ, nôn và buồn nôn, hơi thở ngắn, táo bón hoặc tiêu chảy khiến người bệnh rất mệt mỏi và ảnh hưởng các sinh hoạt chung.

Rối loạn tiêu hóa do tiêu chảy:

Chứng tiêu chảy do nhiễm khuẩn E.Coli rất phổ biến trong bệnh lý tiêu chảy. E.Coli gây bệnh cho người qua đường tiêu hóa khi ăn phải thực phẩm bị nhiễm tác nhân gây bệnh như thịt trâu, bò, dê, sữa bò chưa tiệt khuẩn; rau, quả... (do nhiễm phân của gia súc, người mang mầm bệnh) hoặc do tiếp xúc trực tiếp với súc vật và môi trường nuôi súc vật bị nhiễm bệnh. Vi khuẩn này cũng lây truyền trực tiếp từ người sang người qua đường phân - miệng chủ yếu qua bàn tay, đồ vật nhiễm bẩn với phân của người bệnh. E.Coli còn lây truyền qua đường nước: do tiếp xúc hoặc sử dụng nguồn nước ăn uống, sinh hoạt, nước ở các bể bơi, khu vui chơi giải trí, sông, hồ bị nhiễm tác nhân gây bệnh. Thời gian ủ bệnh từ 2-10 ngày, trung bình 3-4 ngày. Người lớn bị bệnh đào thải vi khuẩn trong phân khoảng 1 tuần. Trẻ em có thể đào thải mầm bệnh qua phân đến 3 tuần.

Triệu chứng lâm sàng của bệnh bao gồm đau quặn bụng và tiêu chảy cấp, phân có thể có máu từ mức độ ít đến nhiều kèm theo có thể có sốt hoặc nôn. Bệnh kéo dài trong khoảng 10 ngày. Một số trường hợp tiến triển nặng gây biến chứng nguy hiểm.

Rối loạn tiêu hóa do bệnh kiết lỵ:

 Bệnh kiết lỵ là một trong những bệnh tiêu hóa mùa hè thường gặp, do ký sinh trùng amibe và trực khuẩn Shigella gây ra. Người bị bệnh kiết lỵ thường đi tiêu ra phân rất ít nhưng có kèm theo đàm và máu. Bên cạnh đó, người bệnh còn có triệu chứng sốt, đau bụng, lả dần, vật vã, luôn có cảm giác muốn đi cầu, hôn mê và tử vong.

Bệnh kiết lỵ nếu không được phát hiện và điều trị sớm có thể chuyển thành kiết lỵ mạn tính, ký sinh trùng amip có thể xâm nhập gan gây áp-xe gan.

Cách phòng bệnh gây rối loạn tiêu hóa

Các tác nhân gây rối loạn tiêu hóa có thể phòng ngừa được nếu mọi người thực hiện tốt nguyên tắc ăn chín, uống sôi, không nên ăn thức ăn đã ôi thiu, để lâu ngày trong tủ lạnh. Sử dụng các loại thực phẩm sạch có nguồn gốc rõ ràng, chế biến thực phẩm đúng cách và đảm bảo vệ sinh. Hạn chế ăn thức ăn đường phố không đảm bảo vệ sinh. Giữ vệ sinh thân thể và môi trường sống sạch sẽ. Rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi tiếp xúc với thực phẩm, môi trường bẩn... Đi khám bác sĩ ngay sau khi thấy có những dấu hiệu bất thường về đường tiêu hóa.

Bệnh về lá gan

 Gan

 là tạng đặc lớn nhất nằm trong ổ bụng, đồng thời cũng là cơ quan đươc tưới máu nhiều nhất. Gan của người khỏe mạnh thường có kích thước khoảng 1 quả bóng bầu dục.

Những người có thể trạng khác nhau, gan cũng có kích thước khác nhau, thường có sự tương đồng với thể trạng của cơ thể. Nhóm người Châu Âu có kích thước gan lớn khoảng 1.5 kg ở người trưởng thành; còn với tầm vóc thể trạng của người Châu Á như Việt Nam kích thước gan có phần nhỏ hơn, khoảng 1.2 kg.

Tuy nhiên, có những trường hợp thể trạng thấp bé nhưng có kích thước gan to và ngược lại. Kích thước không phải là yếu tố duy nhất để đánh giá chất lượng và sức khỏe của lá gan.

Một số dấu hiệu cảnh báo các bệnh về gan:

 Các bệnh về gan trong giai đoạn đầu không có triệu chứng; hoặc các triệu chứng rất mơ hồ, rất khó chuẩn đoán. Đến giai đoạn muộn, xuất hiện các dấu hiệu như vàng da vàng mắt, đau trướng bụng, phù chân (có thể nhầm lẫn với bệnh khác), ngứa, ăn kém, chán ăn, thường xuyên mệt mỏi, sụt cân không rõ nguyên nhân, dễ bị bầm tím ngoài da (do rối loạn đông máu).

Để phát hiện những dấu hiệu bất thường từ đầu, cần làm các xét nghiệm như thử máu kiểm tra chức năng, siêu âm…

Một số bệnh về gan thường gặp ở Việt Nam như: 

Viêm gan virus B, C (còn gọi là viêm gan siêu vi); gan nhiễm mỡ và viêm gan do thoái hóa mỡ; bệnh gan do bia rượu. Ngoài ra, còn một bệnh số bệnh về gan do dùng thuốc (Đông y, Tây y) không đúng chỉ định; bệnh về gan do di truyền như ứ sắt, ứ đồng, bệnh gan tự miễn…

Lời khuyên bảo vệ cho lá gan:

 Hạn chế rượu bia để loại bỏ phần lớn nguyên nhân bệnh gan do bia rượu, hạn chế hành vi có yếu tố nguy cơ như quan hệ tình dục không an toàn, các hành vi lây nhiễm chéo từ máu, dịch tiết (hạn chế lây nhiễm các bệnh viêm gan do virus B, C, tiêm ngừa vắc-xin). Cẩn trọng khi dùng thuốc Đông y, Tây y, thực phẩm chức năng... Hạn chế sự tiếp xúc với các nguồn hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu, thuốc diệt côn trùng, sơn…

Xây dựng và duy trì một lối sống lành mạnh, kiểm soát cân nặng và sức khỏe tốt hạn, chế tình trạng gan nhiễm mỡ. Bảo vệ sức khỏe lá gan, tiêm ngừa vắc xin đầy đủ cũng là giải pháp hữu hiệu để bảo vệ chức năng của gan.

Hoạt động bù trừ của gan

Khả năng hoạt động bù trừ có thể hiểu là khi một tế bào của cơ quan bị tổn thương, thì những tế bào khác sẽ đảm trách phần chức năng của các tế bào bị tổn thương, nhằm đảm bảo hoạt động bình thường của cơ thể. Có thể hiểu nôm na khi một nhóm tế bào “nghỉ việc”, những tế bào còn lại sẽ “tăng ca”, để “bộ máy cơ thể” được hoạt động bình thường .

Ví dụ: Khi bị xơ gan, các tế bào gan khỏe mạng bị chết đi và được thay thế bằng các mô xơ, các mô này đã mất hết chức năng của tế bào gan nên không còn khả năng đảm trách chức năng,  các tế bào gan còn lại sẽ tăng cường hoạt động để bù trừ cho những tế bào gan đã chết đi.

Trong giai đoạn đầu của quá trình bù trừ, các tế bào còn lại vẫn có thể “tăng ca” để đảm đương hoạt động, được gọi là trạng thái “còn bù”. Khi quá trình kéo dài, các tế bào gan tiếp tục chết đi và thay bằng các mô xơ thì các tế bào gan còn lại không thể gánh vác nổi hoạt động bù trừ cho các tế bào đã mất, thì được gọi là trạng thái “mất bù”.

Tương tự, còn có suy tim còn bù, suy tim mất bù…. Tuy nhiên, hoạt động bù trừ này chỉ có thể được thực hiện khi có đủ thời gian cho các tế bào có thể thích ứng, gia tăng hoạt động để bù trừ. Với trường hợp cấp tính thì ít có khả năng bù trừ kịp, do các tế bào không kịp thời thích ứng.

Hoạt động bù trừ của gan nói riêng, của hoạt động bù trừ sinh lý nói chung của mỗi cơ thể khác nhau, chứ không có một mức độ chung. Khả năng bù trừ được đánh giá dựa trên những thông số chung về khả năng hoạt động của cơ thể; vì không thể kiểm đếm khả năng hoạt động của từng tế bào cũng như hiệu quả làm việc của từng tế bào. Nhưng có thể chuẩn đoán chính xác khả năng còn bù hay mất bù của cơ quan đó dựa vào các biểu hiện.

Ví dụ: Với bệnh nhân xơ gan, khi gan đã “mất bù” thì bụng của bệnh nhân bắt đầu có dấu hiệu trướng to (có cổ trướng). Đây là giai đoạn muộn của xơ gan, các tế bào đã chết, mất khả năng hoạt động nhiều, gia tăng gánh nặng hoạt động, khiến các tế bào còn lại không đảm đương nổi chức năng hoạt động.

Với người ghép gan từ người cho sống: 

Khi hiến gan, các bác sĩ sẽ đánh giá để tính toán được mức độ cắt gan sao cho phù hợp nhất, đảm bảo khả năng hoạt động của phần gan còn lại ở người cho và phần gan được ghép ở người nhận (nếu phần gan hiến nhiều có thể khiến chức năng ở người cho không đảm bảo, nếu phần hiến ít quá không đủ chức năng cho người được ghép).

Việc đánh giá được chuẩn bị vô cùng kỹ lưỡng, chính xác bằng nhiều công cụ khác nhau, như đo, đánh giá kích thước, thể tích gan, chức năng gan… sau đó tính toán mức độ cắt gan phù hợp nhất, đảm bảo sức khỏe cho cả người cho và người nhận. Sau khi được ghép, ngoài việc gia tăng hoạt động bù trừ để đảm bảo chức năng của cơ thể, cả phần gan ở người cho và người nhận đều có thể tái sinh, tăng thể tích để đáp ứng chức năng, nhiệm vụ của gan với cơ thể.

Những quan điểm chưa đúng về gan

Thuốc bổ gan có bổ cho gan:

 Trên thị trường có nhiều sản phẩm được giới thiệu là có chức năng giải độc gan, bổ gan… đây thường là các sản phẩm thực phẩm chức năng với công dụng, thành phần, nguồn gốc không rõ ràng, được đồn đoán về sự thần kỳ của công dụng; nhưng hiệu quả thực tế, tính an toàn chưa được kiểm chứng.

Trong thực tế lâm sàng, có nhiều trường hợp bệnh nhân tự ý sử dụng các sản phẩm “tốt cho gan”, nhưng lại chính là nguyên nhân gây tổn thương cho gan, gây viêm gan, suy gan cấp… khi ngừng sử dụng các sản phẩm này thì hoạt động, chức năng của gan dần hồi phục bình thường trở lại.

Do đó cần hết sức cẩn trọng, không tự ý sử dụng các loại thảo dược, thực phẩm chức năng cũng như các loại thuốc Đông, Tây y vì nguy cơ tổn hại đến gan cũng như sức khỏe cơ thể rất lớn. Thay vì tin những lời đồn đoán vô căn cứ, nếu có bất kỳ vấn đề nào bất thường đối với sức khỏe thì nên đi khám để được tư vấn và điều trị kịp thời, chính xác.

Viêm gan siêu vi, cách ly thế nào cho đúng: 

Viêm gan siêu vi do nhiều chủng virus khác nhau gây ra, mỗi chủng có đặc tính, con đường lây nhiễm khác nhau. Viêm gan siêu vi A lây qua đường ăn uống, đã có những trường hợp viêm gan cấp, hoặc xuất hiện ổ dịch viêm gan A nhỏ khi điều kiện ăn uống không đảm bảo vệ sinh, không ăn chín uống sôi nên tiềm ẩn nguy cơ nhiễm chéo khi nguồn thức ăn bị nhiễm virus từ môt người đã mắc bệnh. Viêm gan B, C lây nhiễm qua đường máu, qua đường tình dục… nên các biện pháp cách ly ăn uống, sinh hoạt thông thường hằng ngày thì không có hiệu quả và không cần thiết. Cần hạn chế tiếp xúc với máu và dịch tiết như không dùng chung dao cạo râu, bàn chải đánh răng,… thì vẫn đảm bảo người bệnh có một đời sống sinh hoạt bình thường, không tiềm ẩn nguy cơ gây bệnh cho người xung quanh

Ăn gan bổ gan: Đây là quan niệm không chính xác, một chế độ dinh dưỡng phù hợp và cân đối các thành phần dinh dưỡng thì tốt hơn cho gan. Việc tiêu thụ quá nhiều gan tiềm ẩn nguy cơ sức khỏe, bởi gan là cơ quan có chứa nhiều chất béo, thành phần dinh dưỡng không cân đối, ăn nhiều, ăn lâu dài sẽ tăng nguy cơ về mỡ trong máu. Ngoài ra còn tiềm ẩn nguy cơ nhiễm độc kim loại nặng từ gan, nhất là gan của các loài cá sống tại khu vực có nguồn nước ô nhiễm trong thời gian dài.

 



Trong hoạt động của cơ thể, gan đảm nhiệm gần 300 hoạt động, chức năng khác nhau có thể phân loại thành các chức năng lớn như: chống độc (chức năng hàng đầu của gan), tổng hợp các chất cần thiết cho hoạt động chuyển hóa của cơ thể), tiết mật giúp quá trình tiêu hóa, sản xuất các yếu tố đông máu cho cơ thể.